Key takeaway

Các quốc gia không có quy định pháp lý ngăn chặn nhập nguyên liệu từ nơi dùng lao động cưỡng bức đối mặt với nguy cơ bị Mỹ áp thuế trừng phạt, tạo rủi ro thương mại phi truyền thống ngoài chênh lệch thuế quan đơn thuần.

WHAT

Lao động cưỡng bức (forced labor) trong chuỗi cung ứng là khi doanh nghiệp hoặc quốc gia nhập khẩu nguyên liệu/hàng hóa sản xuất bởi lao động bị ép buộc (forced labor). Mỹ dùng cơ chế USTR điều tra và đề xuất thuế quan trừng phạt nếu quốc gia đối tác thiếu hệ thống pháp lý kiểm soát chuỗi cung ứng này. Điều 307 (Section 307) luật thuế quan Mỹ định nghĩa 3 loại lao động cưỡng bức bị kiểm soát: lao động tù nhân (sản phẩm do phạm nhân sản xuất bị cưỡng chế), lao động gán nợ (ép buộc lao động để trừ nợ theo điều kiện bóc lột), và lao động trẻ em bị cưỡng bức.

WHY/HOW

Cơ chế trừng phạt của Mỹ hoạt động qua 2 cấp độ: (1) thực tiễn thị trường - lao động cưỡng bức có thực trên lãnh thổ; (2) pháp lý - thiếu quy định nhập khẩu nguyên liệu từ bên thứ ba có dùng lao động cưỡng bức. Quốc gia thiếu cả hai hoặc một trong hai đều bị điều tra. Đây là công cụ áp lực phi thuế quan truyền thống nhưng có tác động tương đương thuế quan đối ứng.

Notes

  • 2026-07

    • Ngày 24/7/2026 Mỹ chính thức áp thuế 12,5% với hàng hóa xuất xứ Việt Nam do chưa đảm bảo các tiêu chí về ngăn chặn lao động cưỡng bức theo quy chuẩn Mỹ
    • USTR xác nhận Việt Nam không trực tiếp sử dụng lao động cưỡng bức, nhưng hệ thống pháp lý hiện tại còn thiếu quy định chính thức cấm triệt để nhập khẩu nguyên vật liệu/hàng hóa liên quan lao động cưỡng bức từ nước thứ ba
    • Thống kê 60 nền kinh tế bị điều tra theo Mục 301: 6 nước thất bại trong việc thực thi các điều khoản (49,3%), 54 nước thất bại trong việc ban hành và thực thi (49%), chỉ 0,8% các nền kinh tế đáp ứng đầy đủ điều khoản 301
    • Việt Nam vừa ban hành Nghị định 292/2026 bổ sung khung pháp lý, nghiêm cấm nhập khẩu hàng hóa được khai thác, sản xuất hoặc chế tạo toàn bộ hoặc một phần bởi hành vi lao động cưỡng bức
  • 2026-06

    • USTR đề xuất 12,5% thuế với Việt Nam - mức cao nhất trong 60 nước bị điều tra - do hệ thống pháp lý Việt Nam chưa đủ quy định cấm nhập khẩu nguyên liệu từ nơi dùng lao động cưỡng bức
    • 15 nước (EU, Canada, Bangladesh, Cambodia, Malaysia…) chỉ bị đề xuất 10% vì được đánh giá có hệ thống pháp lý tốt hơn