Key takeaway
Khi một thị trường xuất khẩu chủ lực áp thuế hoặc tạo bất định chính sách cao, chiến lược thoát hiểm của quốc gia phụ thuộc vào việc mở rộng sang thị trường thứ cấp - nhưng đây là quá trình tốn thời gian và không thể thay thế hoàn toàn trong ngắn hạn.
WHAT
Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu là chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia nhằm phân bổ doanh thu xuất khẩu vào nhiều thị trường khác nhau, tránh phụ thuộc quá mức vào một thị trường duy nhất. Mục tiêu: giảm rủi ro khi một thị trường áp thuế, suy thoái hoặc có biến động chính sách.
WHY/HOW
Khi thị trường chính (ví dụ Mỹ) áp thuế quan cao, quốc gia xuất khẩu có 3 lựa chọn:
- Đàm phán giảm thuế (tiên hạ thủ vi cường - chủ động nhượng bộ trước).
- Chuyển hướng xuất khẩu sang thị trường khác (EU, Úc, Trung Đông, ASEAN).
- Nâng cấp chuỗi giá trị để xuất khẩu sản phẩm giá trị cao hơn, ít nhạy cảm hơn với thuế.
Thực tế Việt Nam 2025: xuất khẩu sang Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất, nên khi Mỹ áp thuế đối ứng, Việt Nam phải đẩy mạnh quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với các thị trường thứ cấp. Doanh nghiệp Việt đã hướng đến Úc, Trung Đông từ trước khi có thuế quan Trump 2.0.
Thách thức khi chuyển dịch thị trường:
- Châu Âu: tiêu chuẩn cao (CBAM, quy định ESG), chi phí tuân thủ lớn.
- Trung Đông, Úc: thị trường nhỏ hơn, quan hệ thương mại cần xây dựng lâu dài.
- Thay thế hoàn toàn Mỹ là gần như không thể trong ngắn hạn với ngành dệt may, gỗ, nông sản.
Related
Notes
-
2026-03
- TNG (dệt may xuất khẩu): tỷ trọng EU tăng từ 34% (2024) lên ~50% (giữa 2025) khi Mỹ áp thuế đối ứng - dịch chuyển nhanh hơn đáng kể so với thủy sản nhờ có sẵn khách hàng EU lớn (Decathlon).
- Rủi ro đa dạng hóa sang EU: khi Mỹ đánh thuế cao vào TQ, hàng TQ giá rẻ tràn sang EU, cạnh tranh tại EU khắc nghiệt hơn - thị trường thay thế cũng bị áp lực gián tiếp từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung.
- Thị trường mới nổi: Nga ~16% doanh thu TNG - thị trường phi truyền thống trong đa dạng hóa dệt may Việt Nam.
-
2025-04
- Việt Nam đã ký nhiều FTA (EVFTA, CPTPP, RCEP) như nền tảng pháp lý để thâm nhập thị trường mới.
- Bài học phụ thuộc một thị trường: Mexico 80% và Canada 78% xuất khẩu sang Mỹ nên “ngấm đòn” nặng - lý do Thủ tướng yêu cầu không phụ thuộc quá nhiều một thị trường/đối tác. Việt Nam có 17 FTA nhưng mới khai thác ~31% ưu đãi (ADB khuyến nghị khai thác tốt hơn).
- Với ngành gỗ và giấy: thuế đối ứng có thể lên ~22% - cần chuyển dịch khẩn cấp hơn các ngành khác.
- “Tiên hạ thủ vi cường”: chủ động giảm thuế nhập khẩu cho hàng Mỹ để đổi lấy mức thuế thấp hơn từ Mỹ - hợp lý vì hàng Mỹ vốn đắt, người Việt ít mua dù có giảm thuế.
-
2024-02
- MPC 6T/2023: Nhật Bản tăng từ 16% lên 19% trong khi Bắc Mỹ giảm từ 38% xuống 25% và EU giảm từ 22% xuống 15% - Nhật Bản là điểm tựa thay thế cho tôm VN chất lượng cao khi Bắc Mỹ mất vào tay Ấn Độ
- Khác FMC dùng chứng nhận ASC để chủ động thâm nhập thị trường, MPC chưa rõ lợi thế phân tích cụ thể để giữ hoặc chiếm thị phần Nhật; cần theo dõi chiến lược chứng nhận của MPC
- FMC chủ động chuyển trọng tâm từ Mỹ sang Nhật Bản và Tây Âu sau khi mất thị phần tại Mỹ vào tay Ecuador - cơ cấu 1H/2023: Nhật 18%, Mỹ 31%, EU 21%, so với 1H/2022: Nhật 17%, Mỹ 40%
- FMC dùng chứng nhận ASC cho vùng nuôi tôm là điều kiện để thâm nhập Nhật Bản và Tây Âu - chứng nhận bền vững đóng vai trò vé vào thị trường cao cấp
- ANV dịch chuyển từ TQ & HK (25% năm 2022 → 11% năm 2023) sang Mỹ và EU - ví dụ chuyển hướng thị trường của doanh nghiệp thủy sản khi nhu cầu TQ yếu; nhưng kết quả là tập trung lại vào Mỹ thay vì thực sự đa dạng hóa
-
2021-12
- Xuất khẩu sắt thép Việt Nam lần đầu vượt mốc 10 tỷ USD trong 11 tháng năm 2021, tăng trưởng gần 30% so với cùng kỳ (cao nhất trong các nhóm hàng xuất khẩu); tỷ trọng xuất khẩu thép sang Mỹ tăng từ 1,9% (cuối 2020) lên 6% (tháng 9/2021) và đạt 9,22% về lượng, 13,13% về giá trị, được hỗ trợ bởi gói đầu tư hạ tầng 1.000 tỷ USD của Mỹ (ước tính cứ 100 tỷ USD đầu tư hạ tầng mới làm tăng nhu cầu thép trong nước thêm 5 triệu tấn)
-
Nguyên tắc đa dạng hóa xuất khẩu tương đồng với đa dạng hóa danh mục đầu tư - không đặt tất cả vào một “rổ”.