Tóm tắt

So sánh BCTC quý 3/2020 (kỳ kết thúc 30/9/2020) của Hòa Phát (HPG) và Hoa Sen (HSG) - hai đại diện ngành thép tôn mạ. HPG đạt lợi nhuận 9 tháng kỷ lục 8.845 tỷ (tăng từ 5.654 tỷ cùng kỳ) nhờ tăng quy mô (dự án Dung Quất), tăng đòn bẩy (vay ngắn hạn từ 16.000 lên 23-24 nghìn tỷ, vay dài hạn từ 19.000 lên 21.000 tỷ) và giữ biên lợi nhuận ổn định nhờ tự chủ nguyên liệu (quặng sắt, than). Phải thu và tồn kho tăng chậm hơn doanh thu - chất lượng tăng trưởng tốt. HSG (báo cáo cả năm tài chính kết thúc 30/9/2020) lợi nhuận tăng vọt từ 361 tỷ lên 1.150 tỷ nhờ tái cấu trúc cắt giảm chi phí bán hàng/quản lý (sau thất bại mở 500 điểm bán lẻ giai đoạn 2018-2019) và biên lợi nhuận gộp cải thiện từ ~4% lên 16,8% nhờ giá nguyên liệu đầu vào thuận lợi (vẫn thấp hơn đỉnh 23,2% năm 2016). Tuy nhiên chất lượng lợi nhuận HSG đáng lo: phải thu tăng từ 1.049 lên 1.770 tỷ (tăng 18,67% số ngày phải thu), tồn kho tăng gần 1.000 tỷ, dòng tiền hoạt động kinh doanh sụt hơn 3.200 tỷ (từ +1.922 tỷ xuống -1.181/-3.200 vùng âm). Ngoài ra HSG có giao dịch bên liên quan lớn và gây tranh cãi với công ty của chủ tịch Lê Phước Vũ (Hoa Sen Coffee/tập đoàn đầu tư Hoa Sen) - từng lên đến 6.753 tỷ năm 2018, 4.260 tỷ năm 2019, công bố thông tin che bớt kỳ. Nợ vay HSG còn 8.100 tỷ, vượt mức cấu trúc vốn tối ưu, có thể phải giảm nợ vay kéo theo giảm phải thu/tồn kho và ảnh hưởng lợi nhuận tuyệt đối tương lai. Kết luận: ngành thép tôn mạ là ngành commodity, biên lợi nhuận phụ thuộc giá đầu vào - doanh nghiệp nào chủ động được nguyên liệu (HPG) sẽ thắng, doanh nghiệp phụ thuộc giá (HSG) sẽ biến động mạnh theo chu kỳ giá nguyên liệu.

Outline / Ý chính

  • Bối cảnh: BCTC quý 3/2020 (HPG theo quý dương lịch, HSG theo năm tài chính kết thúc 30/9) - ngành thép tôn mạ tăng trưởng mạnh 9 tháng đầu năm 2020
  • HPG: lợi nhuận 9 tháng 8.845 tỷ (kỷ lục, +56% so với 5.654 tỷ cùng kỳ), doanh thu tăng từ 46.000 lên 65.000 tỷ
  • HPG: cơ chế tạo lợi nhuận = tăng quy mô (Dung Quất) + tăng đòn bẩy (vay ngắn hạn 16.000→23-24 nghìn tỷ, vay dài hạn 19.000→21.000 tỷ) + giữ biên lợi nhuận ổn định
  • HPG: chi phí vốn vay chỉ ~2,8%/năm trong khi chi phí vốn chủ ~12,8% - tăng đòn bẩy giúp tăng lợi nhuận trên vốn chủ (ROE)
  • HPG: chất lượng tăng trưởng tốt - phải thu và tồn kho tăng chậm hơn doanh thu
  • HSG: lợi nhuận cả năm tăng từ 361 tỷ lên 1.150 tỷ dù doanh thu giảm nhẹ (28.000→27.700 tỷ) - đến từ tái cấu trúc cắt giảm chi phí
  • HSG: lịch sử sai lầm chiến lược - đầu cơ nguyên vật liệu (lỗ nặng 2018-2019) và mở 500 điểm bán lẻ không có hệ thống quản trị, phải tái cấu trúc cuối 2019
  • HSG: biên lợi nhuận gộp cải thiện từ ~4% lên 16,8% (đỉnh lịch sử là 23,2% năm 2016), biên lợi nhuận thuần chỉ 3,1-4,78%
  • So sánh cấu trúc ngành: thép tôn mạ là ngành commodity, biên lợi nhuận phụ thuộc giá nguyên liệu đầu vào - HPG chủ động nguyên liệu (Dung Quất) nên ổn định, HSG phụ thuộc giá nên biến động mạnh theo chu kỳ
  • HSG: dấu hiệu chất lượng lợi nhuận kém - phải thu tăng từ 1.049 lên 1.770 tỷ, tồn kho tăng ~1.000 tỷ, dòng tiền hoạt động kinh doanh sụt hơn 3.200 tỷ (âm)
  • HSG: giao dịch bên liên quan với công ty của chủ tịch Lê Phước Vũ - quy mô 6.753 tỷ (2018), 4.260 tỷ (2019), công bố thông tin che giấu một phần kỳ báo cáo
  • HSG: nợ vay 8.100 tỷ vượt mức tối ưu theo cấu trúc vốn - có thể phải giảm nợ vay kéo theo giảm phải thu/tồn kho, ảnh hưởng lợi nhuận tương lai
  • Kết luận: vai trò quản trị công ty và chiến lược đầu tư quyết định khả năng duy trì lợi nhuận trong ngành chu kỳ hàng hóa

Khái niệm trích xuất